IDP Travel

NƠI TRỌN VẸN NIỀM TIN

HÀNH TRÌNH DU XUÂN 5 CHÙA QUẢNG NINH

Tất cả những gì hôm nay chúng tôi có được không phải là lòng hả hê khám phá vùng đất mới mà là Con người được trở về với nguồn cội ông cha . Trong tôi luôn tự hỏi tại sao chúng ta luôn tìm về nguồn cội khi tuổi xế chiều. Phải chăng đó là cả câu hỏi lớn mà chúng ta phải tìm lời giải.
     Chúng tôi cùng đoàn Hội Viên Câu Lạc Bộ Giáo Dục Hưu Trí  bắt đầu chuyến tham quan hành hương về nguồn. Chương trình chúng tôi đi gồm 5 chùa PHÁP ÂM – HƯNG LINH – BA VÀNG – QUỲNH LÂM – ĐÔNG PHÚC.
 
Ảnh: Chùa Pháp Âm - Quảng Yên
 
     Đoàn khởi hành xuất phát từ điểm hẹn khởi hành một chuyến tìm về với nguồn cội đầy hứa hẹn, vì các điểm chúng tôi đi dường như nó còn quá nhiều điều mới. Một số công ty du lịch như bác trưởng đoàn chia sẻ là không nhận chương trình này vì nó hoàn toàn mới và vì một đoàn khác lớn hơn nên bỏ chương trình đoàn khác, nhưng với tiêu chí làm việc IDPTRAVEL thì lớn nhỏ không phải là lý do, 1 khách cũng không từ chối…
Như đúng lịch trình 6h chúng tôi xuất phát chúng tôi có mặt tại chùa Pháp Âm, đoàn dâng hương và nghỉ ngơi tại ngôi chùa cổ kính. 10h20 đoàn bắt đầu hành trình về với ngôi chùa Hưng Linh. 11h30 Đoàn tiếp tục hành trình về với vùng đất Uông Bí nơi có nhiều ngôi Đại Bảo Chùa. 12h Đoàn nghỉ ngơi ăn trưa tại nhà hàng gần chân Chùa Ba Vàng. Sau đó 13h30 đoàn  đến với Ba Vàng, chỉ cách đường du lịch 10km. Đến với Ba Vàng là đến với nơi ngự của đức Tổ, đoàn tiếp rục rời Ba Vàng trở về với Đông Triều nơi 2 ngôi chùa trong chương trình mà những con người đang mang trong mình một lòng hướng phật đang hướng về. 3h40 chúng tôi đến với ngôi chùa Quỳnh Lâm, ngôi chùa mang trong mình những dấu tích của thời gian.
Đoàn tiếp tục chuyến hành hương cả mình đến với ngôi chùa Đông Phúc, lúc đó là 4h30, đoàn dừng chân lễ phật và cầu phúc cho gia đình….  Đoàn khởi hành về Hà Nội khi mặt trời đã khất núi xa xăm….
     TIẾP SAU ĐÂY TÔI XIN MẠN PHÉP GHI DÕ HƠN VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHỮNG NGÔI CHÙA CHÚNG TÔI ĐÃ ĐẶT CHÂN ĐẾN.
Đầu tiên chúng tôi đến là ngôi chùa Chùa Pháp Âm hay còn gọi là chùa Yên Đông  thuộc địa phận Yên Đông - Yên Hải - Quảng Yên - Quảng Ninh được xây dựng khoảng năm 1470, sau nhiều lần trùng tu khang trang như ngày nay.  Đã xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia theo quyết định số 30/2000/QĐ-BVHTT ngày 24 tháng 11 năm 2000.
Trong chùa hiện còn lưu giữa hàng trăm hiện vật là đồ thờ, tượng phật, bia đá là những cổ vật và tư liệu lịch sử có giá trị.
Trong số các ngôi chùa cổ còn lại ở Quảng Ninh thì chùa Yên Đông ở phường Yên Hải, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh là một trong số ít các ngôi chùa cổ tương đối nguyên vẹn. Tên của chùa Yên Đông xuất phát từ tên gọi của làng Yên Đông. Chùa còn có tên chữ là “ Pháp Âm tự”(chùa Pháp Âm).
     Chùa Yên Đông có từ khá sớm, khoảng từ năm 1470 đến 1500, đến năm 1587 thì được xây dựng lại khang trang. Chùa Yên Đông được xây dựng trên khu đất có địa thế đẹp cạnh đình Yên Đông. Tấm bia “Yên Đông tự bi ký” khắc năm 1590 của chùa có đoạn viết: “Chùa Yên Đông là nơi có địa thế hùng tráng, được tứ khí chung đúc, sông, núi, gò, đồng bốn phía đủ cả thanh long, bạch hổ, huyền vũ, chu tước, là nơi đệ nhất danh thắng xứ Hải Đông...”. 
Cho đến nay, mặc dù thời gian và nhiều lần trùng tu xây dựng đã làm cho cảnh cũ chùa xưa thay đổi nhiều, nhưng chùa Yên Đông vẫn giữ được nét cổ kính, rêu phong của ngôi chùa cổ. Các công trình xây dựng gồm chúa chính hướng tây có kiến trúc kiểu chữ Đinh 5 gian bái đường và 3 gian hậu cung, nhà Tổ, nhà sắp lễ, nhà khách, nhà ni, nhà bếp, tam quan, sân, vườn tháp, vườn chùa được nằm trong khuôn viên tường rào với diện tích 3318m2, xây theo kiểu tiền Phật, hậu Tổ. Chùa Yên Đông hiện nay vẫn còn lưu giữ được nguyên vẹn hệ thống tượng Phật, đồ thờ tự, bia đá vô cùng quý giá, được sắp xếp đúng ngôi vị, làm tăng thêm vẻ linh thiêng, thần bí của chùa. Tượng Phật và đồ thờ tự ở đây được các nghệ nhân chạm trổ công phu tỉ mỉ, những pho tượng với đầy đủ các hình dáng khác nhau, thể hiện nội tâm khác nhau. Những nét mềm mại nhưng khoẻ khoắn và dứt khoát cùng với hoa văn trang trí trên từng pho tượng thể hiện qua các thời kỳ đều mang bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam.
     Trong tổng số 110 hiện vật của chùa Yên Đông còn lưu giữ được đến ngày nay có 8 pho tượng gỗ được làm vào năm Mậu Tý niên hiệu Đoan Thái thứ 3 (1858) đó là 3 pho tương Tam Thế, 1 pho tượng A Di Đà, 1 pho tượng Thích Ca thuyết pháp, 2 pho tượng quan Thế Âm và Đại Thế Chí, 1 pho tượng Quan Âm chuẩn Đề. Đây là các tác phẩm điêu khắc gỗ của thời Mạc (Thế kỷ thứ XVI) với hình dáng bố cục, cân đối, đường nét chạm khắc mềm mại, trau truốt, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật. Hai tấm bia đá khắc vào năm Hưng trị thứ 3 (1590), Hưng Trị thứ 4 (1591) cũng là những tác phẩm điêu khắc đá độc đáo của thời Mạc với hình tượng rồng uốn lượn điểm xuyết vân xoắn, đao mác, hoa lá - một đặc trưng riêng của thời Mạc mà ít chùa có được. Ngoài ra chùa Yên Đông còn giữ được 1 bát hương sứ to thời Lê, 27 pho tượng gỗ thời Nguyễn, 1 cửa võng bằng gỗ chạm trổ nổi lưỡng long chầu nhật, hổ phù, hình tứ linh, tứ quý tạo thành bức tranh sống động bốn mùa, 16 tấm bia đá, 1 toà cửu long bằng đồng và một chuông đồng to đúc năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) cùng nhiều đồ thờ tự thời Lê, Nguyễn có giá trị nghệ thuật cao.
     Qua những tư liệu văn bia, hiện vật còn lưu giữ được đến ngày nay, có thể nói chùa Yên Đông đã đóng góp đáng kể cho công tác nghiên cứu khoa học và bảo lưu nền điêu khắc cổ của dân tộc, cho việc tìm hiểu về sự phát triển của lịch sử địa phương góp phần làm phong phú thêm kho tàng tài sản hiện vật quý giá của vùng đất Hà Nam nói riêng, của tỉnh Quảng Ninh nói chung.
Tiếp tục đoàn khởi hành tới ngôi chùa Chùa Hưng Linh (Hưng Linh Tự) được xây dựng vào thời Lê (khoảng năm 1590) thuộc địa phận thôn Hưng Học - Nam Hòa - Quảng Yên - Quảng Ninh.
Chùa thờ: Huyền Quang Tổ Sư vốn là đệ tam tổ Trúc Lâm Yên Tử, làng Hưng Học đã xin chân hương về thờ
Chùa gồm; Chùa chính (vừa được xây dựng lại); tháp một Huyền Quang Tổ Sư; Miếu thờ Phạm Nhan.
Trong chùa hiện còn lưu giữ nhiều pho tượng, chuông đồng và đồ thờ có giá trị.

Ảnh: Cây Bồ Để tại chùa Hưng Linh - Nơi An nghỉ của 1 trong 7 chủ trị của chùa

     Sự tích Huyền Quang Tổ Sư
(1254 - 1334)
(Tổ thứ ba phái Trúc Lâm)
Sư tên Lý Đạo Tái, sanh năm Giáp Dần (1254) ở làng Vạn Tải thuộc lộ Bắc Giang. Thân phụ là Huệ Tổ dòng dõi quan liêu, nhưng đến đời ông thì không thích công danh, chỉ ưa ngao du sơn thủy. Tuy có công dẹp giặc Chiêm Thành, mà ông không nhận chức quan. Thân mẫu họ Lê là người hiền đức.
Nhà Sư ở phía nam chùa Ngọc Hoàng. Năm Sư sanh, một hôm thầy Trụ trì chùa Ngọc Hoàng là Thiền sư Huệ Nghĩa, tối tụng kinh trên chùa xong, xuống phòng ngồi trên ghế trường kỷ, chợt ngủ quên mộng thấy trên chùa đèn đuốc sáng trưng, chư Phật tụ hội đông vầy, Kim cang Long thần chật ních, Phật chỉ Tôn giả A-nan bảo: “Ngươi thác sanh làm pháp khí cõi Đông.” Chợt có ông đạo gõ cửa, Ông chợt tỉnh giấc, làm bài kệ viết trong vách chùa:

Người mà vì đạo chớ tìm đâu
Phật vốn tâm mình, tâm Phật sâu
Mộng thấy điềm lành là ảnh hưởng
Đời này ắt gặp bạn tâm đầu.
 
(Nhân chi vị đạo khởi tha tầm
Tâm tức Phật hề Phật tức tâm
Tuệ địch kiết tường vi ảnh hưởng
Thử sanh tất kiến hảo tri âm.)
 
     Thuở nhỏ Sư dung nhan kỳ lạ, ý chí xa vời, cha mẹ mến yêu dạy các học thuật. Sư học một biết mười, biện tài hiển Thánh. Niên hiệu Bảo Phù thứ hai (1274) đời vua Trần Thánh Tông, Sư thi đỗ Tiến sĩ (Trạng nguyên), lúc ấy được hai mươi mốt tuổi. Cha mẹ tuy đã định hôn cho Sư, nhưng chưa cưới. Sau khi thi đậu, nhà vua gả Công chúa cho, Sư vẫn từ chối.
Sư được bổ làm quan ở Hàn lâm viện và phụng mạng tiếp đón sứ Trung Hoa. Văn chương ngôn ngữ của Sư vượt hơn sứ Trung Hoa, khiến họ phải nể phục.
Một hôm, Sư theo vua Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm ở huyện Phụng Nhãn nghe Thiền sư Pháp Loa giảng kinh, Sư chợt tỉnh ngộ duyên trước, khen ngợi quí mến, tự than: “Làm quan được lên đảo Bồng, đắc đạo thì đến Phổ Đà, đảo trên nhân gian là bậc tiên, cảnh giới Tây thiên là cõi Phật. Sự giàu sang phú quí như lá vàng mùa thu, mây trắng mùa hạ, đâu nên mến luyến?”
Sư mấy phen dâng biểu xin từ chức để xuất gia tu hành. Chính nhà vua rất mến trọng Phật giáo, nên sau cùng mới cho. Đến niên hiệu Hưng Long thứ mười ba (1305), Sư xuất gia thọ giới tại chùa Vĩnh Nghiêm, theo làm Thị giả Điều Ngự, được pháp hiệu là Huyền Quang.
Niên hiệu Hưng Long thứ mười bảy (1309), Sư theo hầu Pháp Loa y theo lời phó chúc của Điều Ngự. Năm Đại Khánh thứ 4 (1317), Sư được Pháp Loa truyền y của Điều Ngự và tâm kệ. Sư vâng lệnh trụ trì chùa Vân Yên trên núi Yên Tử. Do Sư đa văn bác học, tinh thâm đạo lý, nên học đồ bốn phương nghe danh tụ hội về tham vấn thường xuyên không dưới ngàn người.
     Sư thường phụng chiếu đi giảng kinh dạy các nơi và tuyển Chư Phẩm Kinh, Công Văn v.v... Những khoa giáo trong nhà thiền mỗi mỗi đều phải qua tay Sư cả.
Ngày rằm tháng giêng năm Quí Sửu (1313), vua Anh Tông mời về kinh ở chùa Báo Ân giảng kinh Lăng Nghiêm. Sau đó, Sư dâng chiếu xin về quê thăm viếng cha mẹ. Nhân đây, lập ngôi chùa phía tây nhà Sư để hiệu là chùa Đại Bi.
Sư trở về chùa Vân Yên, lúc đó đã sáu mươi tuổi. Nhà vua muốn thử lòng Sư nên cho Thị Bích là một cung nhân tìm cách gần Sư để lấy bằng chứng đem về dâng Vua. Thị Bích dùng man kế gợi lòng từ bi của Sư, rồi về tâu dối với Vua. Vì thế, Sư bị tai tiếng không tốt. Nhưng sau cuộc lễ chẩn tế của Sư, thấy những sự linh nghiệm lạ thường, nhà vua không còn nghi ngờ. Vua liền phạt Thị Bích làm kẻ nô bộc quét chùa trong cung Cảnh Linh ở nội điện.
Sau, Sư trụ trì ở Thanh Mai Sơn sáu năm. Kế sang Côn Sơn giáo hóa đồ chúng. Đến ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất (1334), Sư viên tịch tại Côn Sơn, thọ tám mươi tuổi.
     Vua Trần Minh Tông phong thụy là Trúc Lâm thiền sư Đệ Tam Đại, đặc phong Từ Pháp Huyền Quang tôn giả.
Kết thúc lễ phật tại ngôi chùa Hưng Linh, đoàn khởi hành lại Thành Phố Uông Bí dùng bữa trưa. 13h30 đoàn khởi hành tới lễ phật tham quan tại chùa Ba Vàng.
Chùa Ba Vàng còn có tên là Bảo Quang Tự. Chùa nằm ở độ cao 340m, so với mặt nước biển, trên một vị thế hết sức đẹp của TP Uông Bí. Theo văn bia còn lại của chùa thì núi chùa Ba Vàng xưa kia gọi là Thành Đẳng Sơn.
Tọa lạc trên núi Thành Đẳng hai bên Thanh Long, Bạch Hổ chầu phục, chùa còn là sự nối dài của dãy Linh Sơn Yên Tử, gắn liền với tên tuổi của Trúc Lâm Ma Ha Sa Môn Tuệ Bích Phổ Giác Thiền Sư (1658-1757). Tuy nhiên chùa xưa chỉ còn là phế tích. Để phát huy giá trị của địa linh Phật giáo này, chùa Ba Vàng đã được liên tiếp đầu tư tôn tạo. Vào năm 1988 Chùa được trùng tu lại bằng gỗ và đến năm 1993 thì được xây dựng lại bằng xi măng với diện tích 55m2. 
Những dấu tích kiến trúc gạch ngói vùi lấp bên dưới nền chùa hiện nay lộ ra cho thấy chùa đã được xây dựng ít nhất vào thế kỷ 13, quy mô khá rộng. Do thời gian, mưa nắng và biến động của lịch sử mà chùa dần dần bị đổ nát dẫn tới hoang phế. 
Hiện vật đáng chú ý nhất của chùa Ba Vàng còn sót lại tới hôm nay là một số di vật bằng đá, bao gồm 1 bia đá cao 0,52 m, rộng 0,38 m, dày 0,12 m, 2 con rùa đá và 1 cây hương bằng đá cao 1,2 m 4 mặt, mỗi mặt rộng 0,22 m. Theo dòng chảy thời gian, chữ Hán trên bia đá và cây hương đá đã mòn, rất khó đọc. 
Riêng cây hương bằng đá, phần lớn chữ ở mặt bia đã bị phai mờ, chỉ còn lại một số chữ lớn giáp đầu bia ghi các chữ: Thành Đẳng Sơn, Bảo Quang tự, Thiên đài trụ. Nghĩa là trụ đài đá chùa Bảo Quang, núi Thành Đẳng. 
Đến năm 2007, Đại đức Thích Trúc Thái Minh –  đã được chính quyền và nhân dân địa phương tha thiết thỉnh cầu về làm trụ trì chùa Ba Vàng. 
Tháng 1 năm 2011, để đáp ứng nhu cầu tu học của Tăng Ni, Phật tử và hoằng dương Phật Pháp, ngôi chùa một lần nữa được khởi công xây dựng lần thứ tư với quy mô to lớn khang trang.
Sau 3 năm xây dựng, chùa đã hoàn thiện một số hạng mục như: Ngôi Đại Hùng Bảo Điện (4500m2), Lầu Chuông    (112 m2), Lầu Trống (112 m2), Hành Lang La Hán (200m2), Nhà Bảo Tàng (700 m2), Thư Viện (700 m2), Khu Nhà Tăng (1600 m2), Thiền Đường (960 m2), Cổng Đá, Cổng Tam Quan Trung, Cổng Tam Quan Nội, và một số công trình phụ. 
Ngày 9/3/2014 (9/2/ Giáp Ngọ ) chùa Ba Vàng tổ chức Đại Lễ Khánh Thành và đưa vào sử dụng. Chùa Quỳnh Lâm nằm trên đồi thuộc cánh cung Đông Triều, thuộc xã Tràng An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, cách thị trấn Đông Triều khoảng 3,5 km, cách thành phố Hạ Long 83 km. Chùa được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử và nghệ thuật.
Chùa nằm ở trung tâm ba xóm Thượng, Hạ, Sinh. Phía trước cửa chùa là hồ nước lớn, ba phía còn lại là đồi núi bao bọc. Với thế đất này được gọi là thế ngai vàng, hay thế "Rồng chầu hổ phục".
By: HienGemini
( Còn nữa )

Thẻ Tag

Chia sẻ

Bình luận

TIN MỚI NHẤT

Mùa hoa mơ hoa mận Mộc Châu Sơn La

Mộc Châu Sơn La năm nào cũng vậy cứ qua tết nguyên đán Mộc Châu được thay dổi hoàn toàn…

Cảnh đẹp sapa những ngày băng giá

Từ khoảng 0h45 phút ngày 24/1, tuyết bắt đầu rơi và phủ trắng nhiều huyện của tỉnh Lào Cai. Hàng…

Chuyện ít biết về vị vua lên ngôi 2 lần và lấy vợ Tây

Lê Thần Tông (1607-1662) có tên húy Lê Duy Kỳ, là vị vua thứ 17 của nhà Hậu Lê. Ông…

Mẹo chăm sóc bếp đón tết

Tết đang về, việc dọn dẹp phòng bếp để chuẩn bị đón xuân sẽ giúp không gian gia đình bạn…

GỢI Ý KHÁC

Du Lịch Sapa

du lịch sapa chương trình thú vị

Đầu năm lên Sapa để 'sống chậm' giữa thiên nhiên

Khi khu thị trấn du lịch Sapa trở nên quá đông đúc và xô bồ, nhiều người chuyển sang những…

Cách trang trí phòng ngủ sáng và rộng rãi

Phòng ngủ là nơi dành để nghỉ ngơi, để đọc sách và quan trọng nhất là để ngủ. Bên cạnh…

Gần 1500 nghệ sĩ quốc tế thi hợp xướng tại Hội An

Gần 1.500 nghệ sĩ đến từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ sẽ đem đến một Hội An đa…

IDP Travel - Nơi trọn vẹn niềm tin

Di động: 0942772688 / Máy bàn:

Email: idptravel768@gmail.com / Webiste: http://idptravel.com

Địa chỉ: Số 20 ngách 20 ngõ 100 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, HN